Thụ tinh trong ống nghiệm vô sinh hiếm muộn ivf
Hotline: 028 3862 3568
 
 >  Tin tức > Tin chuyên ngành

Có Nên Hay Không Sử Dụng Các Noãn Bị SER Để ICSI Và Chuyển Phôi ?

Nguyễn Hữu Duy, Đỗ Thị Linh, Nguyễn Thị Giang, Bùi Thị Thu Hiền

                                   

TÓM TẮT


Tổng quan: Một số nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các noãn bị SER (Smooth Endoplasmic Reticulum) sẽ tạo nên các phôi phát triển bất thường và chất lượng kém, ảnh hưởng đến các kết quả lâm sàng sau chuyển phôi, cũng như là gây nên các biến chứng thai kỳ nghiêm trọng trước và sau sinh.


Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của SER ở các noãn trưởng thành lên các kết quả về phôi và lâm sàng, và các bất thường thai kỳ có liên quan.


Thiết kế nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu hồi cứu trên các chu kỳ chuyển phôi tươi, được thực hiện tại IVF Vạn Hạnh từ tháng 8/2013 – 8/2014.


Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: Có tổng cộng 1.055 ca ICSI trong khoảng thời gian này với 112 ca có noãn bị SER và 943 ca có noãn không bị SER. Các số liệu về phôi, lâm sàng và các biến chứng thai kỳ sẽ được so sánh giữa các ca bị SER và không bị SER, cũng như là giữa các noãn bị SER và không bị SER trong các ca SER. Số liệu nghiên cứu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.


Kết quả: Các kết quả về phôi và lâm sàng thu được cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các ca SER+ và SER- cũng như giữa các noãn SER+MII và SER-MII trong cùng một ca SER+.


Kết luận: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các yếu tố phôi và lâm sàng giữa các ca SER+ và SER-, cũng như giữa các noãn SER+MII và SER-MII trong cùng các ca SER+. Các noãn SER+MII hoàn toàn có thể ICSI và chuyển phôi vì không cho thấy các bất thường về sản khoa theo nghiên cứu của chúng tôi.


 TỔNG QUAN


Các phác đồ kích thích buồng trứng trong TTTON thường cho các kết quả rất khác nhau về số lượng cũng như chất lượng noãn thu được (Mateizel et al., 2013). Việc đánh giá chất lượng noãn dựa trên các đặc điểm hình thái bên ngoài đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiên lượng khả năng làm tổ và thụ thai của phôi về sau (Hattori et al., 2014). Chất lượng noãn có thể được đánh giá thông qua các đặc điểm bên ngoài tế bào chất (hình thái của thể cực thứ nhất, kích thước và độ mịn của khoang quanh noãn, hình dạng và kích thước của màng zona pellucida) và các đặc điểm bên trong tế bào chất (độ mịn của bào tương, sự xuất hiện của thể vùi, không bào, mạng lưới nội chất trơn (smooth endoplasmic reticulum- SER)) (Mateizel et al. 2013). Vào năm 2011, các nhà khoa học thuộc 2 hiệp hội chuyên ngành lớn là Alpha (Hiệp hội các Nhà Phôi học Thế giới) và ESHRE (Hiệp hội Sinh sản và Phôi học người châu Âu) đã đồng thuận không sử dụng các noãn bị SER trong TTTON do làm tăng nguy cơ bất thường trong các chu kỳ điều trị TTTON (Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special Interest Group of Embryology 2011). Đồng thuận không sử dụng noãn bị SER được đưa ra do dựa trên một số báo cáo cho thấy xuất hiện hội chứng Beckwith-Wiedemann (Otsuki et al., 2004), thoát vị cơ hoành (Ebner et al. 2008), đa dị tật (Akarsu et al. 2009) sau khi chuyển các phôi có nguồn gốc từ các noãn bị SER. Tuy nhiên, vào năm 2013, tác giả Mateizel và cộng sự lại báo cáo cho thấy các phôi có nguồn gốc từ noãn bị SER hoàn toàn phát triển bình thường và cho ra các em bé khỏe mạnh mà không có một dị tật nghiêm trọng nào được ghi nhận (Mateizel et al. 2013). Một nghiên cứu tổng quan hệ thống nhỏ vào năm 2014 của tác giả Shaw-Jackson và cộng sự cho thấy có 183 bé được sinh ra từ các bệnh nhân có noãn bị SER với 171 bé khỏe mạnh và chỉ có 16 trường hợp có biến chứng thai kỳ (Shaw-Jackson et al. 2014). Do đó, việc sử dụng hay không các noãn bị SER vẫn còn nhiều tranh cãi.


Do vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm có một cái nhìn rõ hơn về việc liệu các noãn bị SER có bất thường về thụ tinh hay tạo phôi không? Các em bé sinh ra từ phôi tạo thành từ các noãn bị SER có bị các dị tật nghiêm trọng hay không? Có các kết cục thai kỳ nguy hiểm gì không? Qua đó, chúng tôi mong muốn góp thêm một phần vào số liệu y văn thế giới giúp làm sáng tỏ hơn vấn đề. Đây cũng là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về vấn đề này.


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


Đây là một nghiên cứu hồi cứu trên các chu kỳ chuyển phôi tươi, được thực hiện tại IVF Vạn Hạnh từ tháng 8/2013 – 8/2014. Có tổng cộng 1.055 ca ICSI trong khoảng thời gian này với 112 ca có noãn bị SER. Các noãn nếu bị SER sẽ được quan sát thấy dưới kính hiển vi đảo ngược ở độ phóng đại 20X khi tiến hành ICSI (hình 1). Với mục tiêu làm rõ tính an toàn của các noãn bị SER, chúng tôi tiến hành đánh giá các yếu tố về labo (số noãn SER trưởng thành, tỉ lệ thụ tinh, khả năng tạo phôi, số phôi tốt) và các yếu tố lâm sàng (tỉ lệ thai lâm sàng, tỉ lệ làm tổ, tỉ lệ trẻ sinh sống và tỉ lệ dị tật ở các bé sinh ra từ phôi có nguồn gốc từ noãn bị SER) ở các ca có noãn bị SER và so sánh các ca này với các ca không bị SER trong cùng thời gian, cũng như là so sánh kết quả phôi trong nội bộ các ca bị SER giữa noãn bị SER (SER+MII) và noãn không bị SER (SER-MII).


Số liệu nghiên cứu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 với p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.



Hình 1. Noãn bị SER (Nguồn: IVF Vạn Hạnh)


KẾT QUẢ


Có tổng cộng 112 ca có noãn bị SER (SER+) và 943 ca có noãn không bị SER (SER-) trong khoảng thời gian từ tháng 8/2013 đến 8/2014 tại IVF Vạn Hạnh.


c yếu tố về phôi và lâm sàng giữa các ca SER+ và SER-


Theo bảng 1, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi trung bình giữa các bệnh nhân SER+ (35,71 ± 4,66) và SER- (35,26 ± 5,04) cũng như số noãn chọc hút được. Ngoài ra, tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ phôi tốt giữa 2 nhóm cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, khả năng tạo phôi (ngày 2) của các ca SER+ (95,13%) lại cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các ca SER- (94,90%) (p=0,047).


Về mặt lâm sàng, có 724 ca SER+ và 81 ca SER- được chuyển phôi tươi (bảng 1). Không có sự khác biệt giữa số phôi chuyển trung bình, tỉ lệ thai lâm sàng, tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ trẻ sinh sống giữa 2 nhóm SER+ và SER- (p>0,05). Tương tự, các biến chứng thai kỳ như tỉ lệ thai sinh hóa, tỉ lệ sảy thai, thai lưu, thai ngoài tử cung và các dị tật bẩm sinh cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm SER+ và SER-.


Các yếu tố về phôi và lâm sàng giữa các noãn SER+MII và SER-MII ở 112 ca bị SER


Bên cạnh so sánh kết quả điều trị giữa các ca SER+ và SER-, chúng tôi cũng tiến hành phân tích các các kết cục về phôi và lâm sàng ở các noãn SER+MII và SER-MII ở chỉ các ca bị SER nhằm tìm hiểu xem có sự khác biệt nào không giữa các noãn MII bị và không bị SER trong cùng một ca SER.


Theo bảng 2, có tất cả 1.166 noãn MII được chọc hút từ 112 ca SER+ với 193 noãn SER+MII và 973 noãn SER-MII. Tỉ lệ thụ tinh (2PN) cũng như là 1PN và 3PN giữa các noãn SER+MII và SER-MII không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tương tự, khả năng tạo phôi ngày 2 cũng như tỉ lệ tạo phôi tốt từ các noãn SER+MII không khác biệt so với các noãn SER-MII trong cùng các ca bị SER (p>0,05).


Về mặt lâm sàng, trong 112 ca SER+ có 81 ca được tiến hành chuyển phôi tươi và được chia thành 3 nhóm: (1) chỉ chuyển phôi từ SER-MII (n=20); (2) chỉ chuyển phôi từ SER+MII (n=4); (3) chuyển phôi từ cả SER+MII và SER-MII (n=30). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số phôi chuyển trung bình ở 3 nhóm (p=0,004), tuy nhiên tỉ lệ thai lâm sàng, tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ trẻ sinh sống lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm. Bên cạnh đó, tỉ lệ sảy thai, tỉ lệ thai sinh hóa, tỉ lệ thai lưu và tỉ lệ thai ngoài tử cung cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm này.


Bảng 1. So sánh các kết cục về phôi và lâm sàng giữa 2 nhóm SER- và SER+


 

SER-

SER+

P value

Tổng ca

943

112

 

Tuổi vợ

35.26 ± 5.04

35.71 ± 4.66

NS

Số trứng chọc hút

11.77 ± 7.33

12.89 ± 7.88

NS

% thụ tinh

74%

77.26%

NS

% tạo phôi (ngày 2)

94.90%

95.13%

0.047

% phôi tốt

36.68%

36.04%

NS

 

 

 

 

Kết quả điều trị lâm sàng

 

 

 

 

 

 

 

Số ca chuyển phôi tươi

724

81

 

Số phôi chuyển

2.89 ± 1.11

2.86  ± 0.85

NS

% CPR

30.8% (223/724)

28.4% (23/81)

NS

% thai sinh hoá

5.9% (43/724)

2.5% (2/81)

NS

% IR

11.40%

11.1% (26/233)

NS

% thai ngoài tử cung

1.1% (8/724)

0% (0/81)

NS

% thai lưu

3.6% (26/724)

2.5% (2/81)

NS

% sảy thai

0.4% (3/724)

1.2% (1/81)

NS

% trẻ sinh sống

24.4% (177/724)

21.0% (17/81)

NS

% dị tật

0%

0%

NS

Cân nặng trung bình (gam)

2749 ± 592

3046 ± 589

NS

Tuần thai trung bình

32.84 ± 10.61

36.23 ± 4.79

NS


Bảng 2. So sánh các kết cục về phôi và lâm sàng giữa các noãn SER+MII và SER-MII ở các ca SER+


 

 MII SER-

 MII SER+

P value

 

Tổng số noãn chọc hút

973

193

 

 

% thụ tinh

77.20%

75.60%

NS

 

% 1PN

3.90%

4.10%

NS

 

% 2PN

68.80%

64.80%

NS

 

% 3PN

2%

0%

NS

 

% tạo phôi D2

95.50%

98.60%

NS

 

% phôi tốt D2

26.60%

28.50%

NS

 

 

 

 

 

 

Chuyển phôi tươi

 

 

 

 

 

SER-

SER+

Mix

P value

Số ca chuyển

47

4

30

 

Tổng số phôi chuyển

133

6

96

 

Số phôi chuyển trung bình

2.78 ± 0.86

1.50 ± 0.57

3.1 ± 0.91

0.004

% thai lâm sàng

31.9% (15/47)

25% (1/4)

26.7% (8/30)

NS

% IR

10.5% (14/133)

16.7% (1/6)

14.6% (14/96)

NS

% sảy thai

2.1% (1/47)

0% (0/4)

0% (0/30)

NS

% thai sinh hóa

4.2% (2/47)

0% (0/4)

0% (0/30)

NS

% thai lưu

2.1% (1/47)

0% (0/4)

0% (0/30)

NS

% thai ngoài tử cung

0% (0/47)

0% (0/4)

0% (0/30)

NS

% trẻ sinh sống

17% (8/47)

25% (1/4)

26.7% (8/30)

NS


BÀN LUẬN


Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm xác định xem liệu các noãn SER+MII có thụ tinh bình thường không cũng như là các phôi có nguồn gốc từ các noãn bị SER có phát triển bình thường và cho ra các em bé khỏe mạnh không. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm SER+ và SER- về các yếu tố phôi và lâm sàng, cũng như các em bé sinh ra từ các phôi SER+ đều hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh khi so sánh với các ca không bị SER.


Nhiều nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của bất thường SER là do việc kích thích buồng trứng chưa đủ, do nồng độ estradiol huyết thanh cao vào ngày rụng trứng, hay nồng độ AMH và estradiol cao cũng như do liều lượng hormone cao dùng trong kích thích buồng trứng và thời gian kéo dài của một chu kì điều trị (Ebner et al. 2008; Otsuki et al. 2004). Sự xuất hiện của SER không liên quan đến tuổi của bệnh nhân, số lượng trứng chọc hút được, độ dày của nội mạc tử cung hay lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng (Otsuki et al. 2004). Cơ chế hình thành SER đến nay vẫn chưa rõ nhưng sự xuất hiện của SER làm tăng dự trữ canxi nội bào của noãn và do đó ảnh hưởng đến nồng độ canxi nội bào được giải phóng trong quá trình thụ tinh làm cản trở sự hình thành tiền nhân, đồng thời tác động tiêu cực lên sự phát triển và làm tổ của phôi (Ebner et al. 2008; Otsuki et al. 2004). SER chỉ biến mất ở thời điểm 16-18h sau khi tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Otsuki et al. 2004). Các nghiên cứu trước đây cho thấy những trường hợp SER+ thường có tỉ lệ thai và tỉ lệ làm tổ thấp hơn các ca SER- cũng như là các bé sinh ra thường có tỉ lệ bất thường và dị tật cao (Akarsu et al. 2009; Ebner et al. 2008; Otsuki et al. 2004; Sá et al. 2011). Tuy nhiên, vào năm 2013, tác giả Mateizel và cộng sự khi tiến hành khảo sát trên 7.239 chu kỳ ICSI lại không thấy có bất kỳ bất thường nào trong quá trình tạo phôi từ các noãn SER+MII cũng như là các phôi từ noãn SER+MII vẫn phát triển bình thường và cho ra các em bé khỏe mạnh mà không có bất kỳ dị tật nghiêm trọng nào được ghi nhận (Mateizel et al. 2013). Đây cũng là nghiên cứu có cỡ mẫu lớn nhất cho đến nay. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận bởi tác giả Hattori và cộng sự vào năm 2014 khi phân tích hồi cứu trên 3.758 chu kỳ ICSI (Hattori et al. 2014). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng thu được kết quả tương tự 2 tác giả Mateizel và Hattori khi không thấy có bất thường gì ở các bé sinh ra từ phôi có nguồn gốc SER+.


Các ca SER+ trong nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ tạo phôi, tỉ lệ phôi tốt, tỉ lệ làm tổ, tỉ lệ thai và các yếu tố lâm sàng khác tương tự các ca SER- (bảng 1). Các kết quả về phôi của chúng tôi tương tự với các tác giả (Ebner et al. 2008; Mateizel et al. 2013; Otsuki et al. 2004), tuy nhiên lại khác với nghiên cứu của tác giả Sá và cộng sự (Sá et al. 2011) khi cho thấy tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ tạo phôi thấp hơn ở các trường hợp SER+. Về các yếu tố lâm sàng, kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với 2 tác giả (Hattori et al. 2014; Mateizel et al. 2013) nhưng khác với tác giả Otsuki (Otsuki et al. 2004) khi tác giả này lại cho thấy tỉ lệ thai thấp hơn và tỉ lệ thai sinh hóa cao hơn ở các ca SER+.


Đối với các noãn SER+MII và SER-MII trong cùng các ca SER+, chúng tôi thu được các kết quả về tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ tạo phôi, tỉ lệ phôi tốt, tỉ lệ làm tổ tương tự với nghiên cứu của tác giả Mateizel và cộng sự (Mateizel et al. 2013) khi thấy rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số trên giữa noãn SER+MII và SER-MII. Tuy nhiên, tác giả Hattori (Hattori et al. 2014) lại thấy tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ làm tổ của các noãn SER+MII thấp hơn so với các noãn SER-MII trong cùng ca SER+. Tác giả Ebner và cộng sự (Ebner et al. 2008) cũng nghiên cứu thấy tỉ lệ thụ tinh ở noãn SER+MII thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với noãn SER-MII. Như vậy, có thể thấy các kết quả nghiên cứu về noãn SER+MII khá là khác nhau giữa các nghiên cứu. Sự khác nhau về các kết cục của noãn SER+MII có thể là do các nghiên cứu khác nhau về cỡ mẫu, đặc điểm bệnh nhân, phác đồ kích thích buồng trứng, ….


Để có một cái nhìn rõ hơn về các phôi phát triển từ các noãn SER+MII, chúng tôi tiến hành chia các phôi chuyển thành 3 nhóm: (1) chỉ chuyển phôi từ SER-MII (n=20); (2) chỉ chuyển phôi từ SER+MII (n=4); (3) chuyển phôi từ cả SER+MII và SER-MII (n=30) (bảng 2). Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số phôi chuyển trung bình ở 3 nhóm (p=0,004), tuy nhiên tỉ lệ thai lâm sàng, tỉ lệ làm tổ và tỉ lệ trẻ sinh sống lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm. Bên cạnh đó, tỉ lệ sảy thai, tỉ lệ thai sinh hóa, tỉ lệ thai lưu và tỉ lệ thai ngoài tử cung cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm này. Kết quả này của chúng tôi tương tự với tác giả Hattori và Mateizel (Hattori et al. 2014; Mateizel et al. 2013). Qua đó có thể thấy các phôi từ noãn SER+MII không liên quan đến các bất thường sản khoa.


Ngoài ra, tuần thai và cân nặng trung bình ở các bé sinh ra từ noãn SER+MII cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các noãn SER-MII ở 3 nhóm và giữa các ca SER+ và SER-. Kết quả này của chúng tôi tương tự tác giả Hattori và cộng sự (Hattori et al. 2014). Tuy nhiên, tác giả Sá và cộng sự (Sá et al. 2011) lại thấy tuần thai ở các ca SER+ ngắn hơn mặc dù không khác biệt về cân nặng. Ngược lại, tác giả Ebner lại thấy các bé sinh ra từ các ca SER+ lại nhẹ cân hơn các ca SER- (Ebner et al. 2008).


KẾT LUẬN


Qua các số liệu nghiên cứu thu được, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các yếu tố phôi và lâm sàng giữa các ca SER+ và SER-, cũng như giữa các noãn SER+MII và SER-MII trong cùng các ca SER+. Các noãn SER+MII hoàn toàn có thể ICSI và chuyển phôi vì không cho thấy các bất thường về sản khoa theo nghiên cứu của chúng tôi.


Tuy nhiên, do số liệu nghiên cứu của chúng tôi còn ít nên vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu khác với cỡ mẫu lớn hơn để có thể có một kết luận chính xác hơn. Ngoài ra, các bé sinh ra từ các phôi có nguồn gốc từ noãn SER+MII vẫn cần được theo dõi lâu dài nhằm xác định sớm các bất thường phát sinh về sau nếu có. 



TÀI LIỆU THAM KHẢO


Akarsu, Cem, Gamze Çaǧlar, Kubilay Vicdan, Eran Sözen, and Kutay Biberoǧlu. 2009. “Smooth Endoplasmic Reticulum Aggregations in All Retrieved Oocytes Causing Recurrent Multiple Anomalies: Case Report.” Fertility and Sterility 92(4):9–11.

Alpha Scientists in Reproductive Medicine and ESHRE Special Interest Group of Embryology, 2011. 2011. “The Istanbul Consensus Workshop on Embryo Assessment: Proceedings of an Expert Meeting.” Human reproduction (Oxford, England) 26(6):1270–83. Retrieved May 27, 2015 (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21502182).

Ebner, Thomas, Marianne Moser, Omar Shebl, Michael Sommerguber, and Gernot Tews. 2008. “Prognosis of Oocytes Showing Aggregation of Smooth Endoplasmic Reticulum.” Reproductive biomedicine online 16(1):113–18. Retrieved (http://dx.doi.org/10.1016/S1472-6483(10)60563-9).

Hattori, Hiromitsu, Yusuke Nakamura, Yukiko Nakajo, Yasuhisa Araki, and Koichi Kyono. 2014. “Deliveries of Babies with Normal Health Derived from Oocytes with Smooth Endoplasmic Reticulum Clusters.” Journal of Assisted Reproduction and Genetics 31(11):1461–67. Retrieved (http://link.springer.com/10.1007/s10815-014-0323-z).

Mateizel, I., L. Van Landuyt, H. Tournaye, and G. Verheyen. 2013. “Deliveries of Normal Healthy Babies from Embryos Originating from Oocytes Showing the Presence of Smooth Endoplasmic Reticulum Aggregates.” Human Reproduction 28(8):2111–17.

Otsuki, J., a. Okada, K. Morimoto, Y. Nagai, and H. Kubo. 2004. “The Relationship between Pregnancy Outcome and Smooth Endoplasmic Reticulum Clusters in MII Human Oocytes.” Human Reproduction 19(7):1591–97.

Sá, Rosália et al. 2011. “Ultrastructure of Tubular Smooth Endoplasmic Reticulum Aggregates in Human Metaphase II Oocytes and Clinical Implications.” Fertility and Sterility 96(1).

Shaw-Jackson, Chloë, Nina Van Beirs, Anne Laure Thomas, Serge Rozenberg, and Candice Autin. 2014. “Can Healthy Babies Originate from Oocytes with Smooth Endoplasmic Reticulum Aggregates? A Systematic Mini-Review.” Human Reproduction 29(7):1380–86.

 

 Bài viết cùng loại

Hướng dẫn chích thuốc

 

Liên hệ

Điện thoại: Tel: 028 3862 3568 Lầu 4
Điện thoại: Tel: 028 3862 3569 Lầu 5
Địa chỉ: 700 Sư Vạn Hạnh, Lầu 4-5
Thời gian làm việc:T2 - T7 : 7:30 - 16:30

Liên kết

     

Góc tri ân

IVF Vạn Hạnh xin chân thành cám ơn những tình cảm mà quý bệnh nhân đã dành...
Lời Tri Ân !
free web counter
free web counter
bọc răng sứ nha khoa niềng răng
Menu
Liên hệ
Khoa Điều Trị Hiếm Muộn IVF
Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh

Tel: 028 3862 3568 Lầu 4
Tel: 028 3862 3569 Lầu 5
Địa chỉ: Lầu 4-5, 700 Sư Vạn Hạnh, P12, Q10
Website: ivfvanhanh.com.vn
Thời gian làm việc
T2 - T7 : 7:30 - 16:30
Chủ nhật & ngày lễ: nghỉ